Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Món nợ phụ nữ Việt ở Trung Hoa

Kính Chiếu Yêu: Bạn Sự Viễn lấy tiêu đề cho bài viết là "Món nợ Trung Hoa", thấy không vừa ý lắm nên mình đặt lại theo gợi ý của bạn Chí Cường.


          Một cô dâu Việt ở xóm núi Trần Địa, huyện Nam Bình (Phúc Kiến - Trung Quốc)

1.Mấy bữa nay, điện thoại của tôi lại nhận được cuộc gọi của bà Kiều, một người đàn bà bán vé số ở huyện Cần Giuộc (Long An) để tìm cách cứu đứa con gái, được gả làm vợ một người đàn ông ở miền duyên hải Triết Giang (Trung Quốc) từ cuối năm 2013.

Chính xác là bà Kiều đã gọi cho tôi từ hơn một năm trước, khi con gái bà gọi điện về cầu cứu vì bị đánh đập, bị đưa đến một nơi không rõ địa chỉ ở Triết Giang, cách nơi ở ban đầu 8 giờ xe chạy, rồi sau đó mất liên lạc.

Thông tin quá mù mờ ấy làm tôi không biết phải giúp bà làm sao đây, khi mà con gái bà được gả cho người chồng Trung Quốc sau một đám cưới chỉ với...1 bàn tiệc ở Đầm Sen. Rồi lên máy bay, bay thẳng về xứ lạ, trong người không có nổi tấm giấy kết hôn.

Bà Kiều gọi cho tôi nhiều lần, bằng nhiều số điện thoại khác nhau, lần nào cũng giọng bà cũng thảng thốt, có khi như van nài, tôi biết mình không làm gì để giúp bà được ngoài việc lắng nghe. Nhưng rồi nhiều đêm, 2 – 3 giờ sáng, trước giờ cầm xấp vé số từ Cần Giuộc lên chợ Bình Chánh để bán, bà lại gọi tôi, trách móc, chửi bới: “Mấy người chỉ muốn tui nói cho nhiều để có thông tin viết bài mà không giúp gì được tôi hết”. Nói rồi, vài ba bữa bà lại gọi tiếp, giọng như cầu cứu van xin, có khi còn hỏi có thể đi cùng bà sang Trung Quốc tìm con.

Tôi lặng thinh nghe bà chửi, không giải thích được, cũng không dám nhận lời đi Trung Quốc tìm con cùng bà. Vì địa chỉ con gái bà ở Triết Giang (Trung Quốc) không có, tên người “con rể” cũng không rõ và danh phận làm dâu Trung Quốc của con gái bà cũng không được pháp luật đất nước nào thừa nhận. Tôi chỉ biết sẻ chia tâm trạng của một người mẹ tìm con trong vô vọng bằng cách nghe hết tất cả những cuộc điện thoại của bà Kiều. Cảm giác đó, có thể là một món nợ mãi mãi của tôi với một người đàn bà đang tìm con trong vô vọng.

2.Cảm giác mình đang mang một món nợ sau những cuộc điện thoại của bà Kiều, thực ra tôi đã từng gặp ở Trung Quốc, trên những chuyến xe đò từ những triền núi cao ở huyện Nam Bình về lại thủ phủ Phúc Châu ở Phúc Kiến (Trung Quốc) vào những ngày cuối năm 2013. Đó là chặng cuối của hành trình đi tìm những thân phận bị đọa đày của các cô gái Việt làm dâu đất Trung Hoa, trong loạt bài mà tôi và phóng viên Đông Phương đăng sau đó trên Tuổi Trẻ.

Tôi vẫn nhớ con đường từ thủ phủ Phúc Châu về TP Kiến Dương thủ phủ huyện Nam Bình rất dài, gần 400 km, rồi từ Kiến Dương còn đi thêm hai chặng xe đò non trăm cây số nữa mới tới được Thủy Cát, Chương Đôn, Trần Địa... những xóm núi nghèo nàn, thăm thẳm, nơi có nhiều cô dâu Việt sinh sống. Nhưng, để tìm được các cô dâu Việt ấy là điều không dễ vì tất cả họ đều bị nhà chồng canh giữ, hòng dập tắt giấc mơ đào thoát về quê mẹ.

Những ngày giá lạnh ấy ở Phúc Kiến, tôi và Đông Phương đã may mắn được Phượng, một cô dâu Việt có nhà chồng tử tế ở thị trấn Chương Đôn giúp đỡ, tìm ra được những thân phận cô dâu Việt bị nhà chồng đày đọa. Từ Chương Đôn, tôi và Đông Phương lại bắt xe “bánh mì” (ô tô 6 chỗ), xe ba bánh, xe ôm...đi qua Thủy Cát, Trần Địa, Đông Sơn... những vùng nông thôn có nhiều cô dâu Việt Nam sang lấy chồng, với câu thần chú “bạn của Phượng”, và nhờ vậy mà được các cô dâu Việt trải lòng.

Tôi còn nhớ ở thị trấn Thủy Cát, từ giới thiệu của Phượng cô dâu tên Hạnh quê ở Cờ Đỏ (Cần Thơ) đã ra chợ mua con vịt về kho gừng, rồi gọi điện cho năm cô dâu khác ở quanh vùng, mỗi cô một hoàn cảnh, một nỗi đau đến chơi để kể chuyện cho chúng tôi nghe. Rồi mấy ngày sau, lại với câu thần chú “bạn của Hạnh”, tôi và Đông Phương mướn xe ba bánh đi lên xóm núi Trần Địa trên ngọn núi cao gần 3000m để gặp những cô dâu Việt bị ngược đãi khác.

Từ chỗ không có manh mối, sau những câu thần chú “bạn của Phượng”, “bạn của Hạnh”, “bạn của Hương”... tôi và Đông Phương đã gặp gần 20 cô dâu Việt đang trong cảnh “cá chậu chim lồng” trên đất Phúc Kiến. Tất cả các cô dâu Việt ấy khi gặp đều chỉ hỏi chúng tôi một câu: “anh, chị có đưa tụi em về được không?”.

Cũng như câu hỏi của người đàn bà bán vé sô ở Cần Giuộc, tôi không trả lời được cho các cô vì rất nhiều lý do. Trong đó lý do lớn nhất là các cô đã tự buộc gông vô chân mình, khi đa số đều không đăng ký kết hôn, không tiền bạc và thậm chí không biết vùng đất mình đang sống là xứ sở nào trên đất Trung Hoa mênh mông này.

Mỗi cô dâu Việt kể xong những ngày tháng làm dâu đọa đày của mình lại làm cho tư liệu bài viết của chúng tôi dày thêm và nỗi nặng nề trong lòng cũng dày thêm. Có lúc chẳng biết làm sao, tôi rút ra mấy tờ tiền Việt, dúi cho các cô, không phải cho tiền mà nói để các cô giữ lại như một kỷ niệm. Không ngờ, nhiều cô dâu rưng rưng nước mắt: “mấy năm rồi em mới thấy được tờ tiền bên mình, nhớ nhà lắm anh ơi!”

Số điện thoại Trung Quốc của tôi và Đông Phương trên suốt chặng đường mấy trăm cây số trở về thủ phủ Phúc Châu cứ liên tục nhận được tin nhắn và điện thoại của những cô dâu Việt. Họ được những bạn bè là các cô dâu khác đã gặp chúng tôi và cho số. Và cũng như bà Kiều bán vé số, một cô dâu Việt ở cổ trấn Hòa Bình đã mắng tôi qua điện thoại: “tui nghe bạn giới thiệu, hóa ra anh cũng là đồ lừa đảo, chỉ muốn moi tin tụi tui”.

Cổ trấn Hòa Bình là nơi tôi và Đông Phương không ghé được vì đường quá xa mà quỹ thời gian 10 ngày ở Trung Quốc quá hạn hẹp. Cô dâu Việt nhắn tin nhắn ấy tôi cũng chưa từng biết. Nhưng cũng như bà Kiều, họ đã bấm điện thoại cho tôi trong nỗi niềm tuyệt vọng, và nghĩ rằng đó sẽ là người giúp mình thoát khỏi cuộc sống địa ngục làm dâu đất Trung Hoa.

Ngày cuối cùng, khi rời sân bay Trường Lạc về Việt Nam, tôi đã tháo SIM điện thoại Trung Quốc, định vứt đi. Nhưng rồi lòng cứ ngần ngừ, đó là số điện thoại mà bao nhiêu cô dâu Việt đã gửi gắm cho tôi nỗi tuyệt vọng của mình. Cho dù về Việt Nam sẽ không dùng nữa, nhưng vứt chiếc SIM đó, tôi và Đông Phương cứ cảm giác mình vứt bỏ một món nợ trên đất Trung Hoa. Dù biết rằng, đó là món nợ mà mình không bao giờ trả được.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét